Thập mục ngưu đồo 0 o Thập mục ngưu đồ, tức là các bộ, mười bức tranh chăn trâu, khởi đầu trâu đen, dần dần đổi trắng, từ trên đỉnh đầu, xuống tới thân mình, sau rốt đến đuôi. Đó là tượng trưng, các pháp môn tu, với quá trình hành đạo của một người phát nguyện đạt Giác ngộ. Tranh vẽ thập mục ngưu đồ này tuy nhiều, nhưng có thể xếp thành hai loại : khuynh hướng Đại thừa và khuynh hướng Thiền tông. Loại theo khuynh hướng Đại thừa vẽ lại quá trình công phu tu tập của hành giả. Trước hết phải tự thắng bản năng mình, sau đến tự tri, và cuối cùng đạt đến tự tại; còn khuynh hướng Thiền tông trình bày bước tiến tâm linh theo hình vẽ qua ba giai đoạn: sai tâm bắt tâm ,tâm vô tâm , tâm bình thường. Hình ảnh biểu tượng con trâu là một hình ảnh cụ thể sống động, đã từng được đức Phật sử dụng trong những ngày cuối cùng để dạy các đệ tử nhằm canh giữ cái tâm của họ, cũng như canh giữ một con trâu. Đức Phật dạy: "Y như chăn trâu, cầm gậy canh chừng, không để nó buông lung phạm vào lúa mạ của người" .Và cũng từ đó, hình ảnh con trâu được các nhà sư hai phái Đại thừa và Thiền tông Trung hoa sử dụng một cách triệt để hơn . NhưThiền sư Trường Khánh Đại An lúc còn trụ trì tại chùa Quy Sơn, nói với chúng tăng : "... Sở dĩ, Đại An này ở tại Quy Sơn ba mươi năm, ăn cơm Quy Sơn, đại tiện Quy Sơn mà không học thiền Quy Sơn, chỉ coi chừng con trâu. Nếu nó lạc đường hay vào trong cỏ liền lôi nó lại. Nếu nó ăn lúa mạ của người liền đánh đập điều phục nó… Bây giờ nó đã trở thành con trâu trắng đứng trước mặt, trọn ngày hiện sờ sờ đuổi cũng chẳng đi...". Cũng như Mã Tổ hỏi đệ tử mình là Thạch Củng Huệ Tạng: "Làm việc gì?" Thạch Củng thưa: "Chăn trâu." Tổ hỏi: "Làm sao chăn?" Thạch Củng đáp: "Một khi vào cỏ thì nắm mũi kéo lại." Tổ nghe bảo: "Con thật là khéo chăn trâu." Và cứ như thế pháp chăn trâu được nhiều người sử dụng, vừa tự mình chăn vừa dạy kẻ khác chăn. Mãi về sau này người ta mới vẽ thành tranh, và được gọi là: "Thập Mục Ngưu Đồ." Các bức tranh chăn trâu được sáng tạo thời nhà Tống (960-1279) và ngay từ đầu đã được xem như những bức hoạ tiêu biểu, trình bày tinh hoa, cốt tuỷ của Thiền Trung Quốc. Có nhiều bộ tranh - có thuyết nói là bốn, thuyết khác nói là 5, 6 tranh chăn trâu khác nhau - nhưng có lẽ nổi danh nhất và cũng bao hàm ý nghĩa nhiều nhất là bộ với mười bức tranh của Thiền sư Khuếch Am Sư Viễn , được lưu lại trong bản sao của họa sĩ người Nhật tên Châu Văn . Những bức tranh này cũng được chú thích rất rõ trong bộ Thiền luận của Daisetz Teitaro Suzuki. Bài tụng của Thiền sư Khuếch Am được Thích Thanh Từ dịch. [ ] |
![]() |
Tìm trâu Nao nao vạch cỏ kiếm tìm trâu Núi thẳm đường xa nước lại sâu Kiệt sức mệt nhoài tìm chẳng thấy Chỉ nghe réo rắt giọng ve sầu. |
![]() |
Thấy dấu Ven rừng bến nước dấu liên hồi Vạch cỏ ruồng cây thấy được thôi Ví phải non sâu lại sâu thẳm Ngất trời lỗ mũi hiện ra rồi. |
![]() |
Thấy trâu Hoàng anh cất tiếng hót trên cành Nắng ấm gió hoà bờ liễu xanh Chỉ thế không nơi xoay trở lại Đầu sừng rành rõ vẽ khôn thành |
![]() |
Bắt trâu Dùng hết thần công bắt được y Tâm hùng sức mạnh khó khăn ghì Có khi vừa hướng cao nguyên tiến Lại xuống khói mây mãi nằm ì |
![]() |
Chăn trâu Nắm chặt dây roi chẳng lìa thân Ngại y chạy sổng vào bụi trần Chăm chăm chăn dữ thuần hoà dã Dây mũi buông rồi vẫn theo gần |
![]() |
Cưỡi trâu về nhà Cưỡi trâu thong thả trở về nhà Tiếng sáo vi vu tiễn vãn hà Một nhịp một ca vô hạn ý Tri âm nào phải động môi à |
![]() |
Quên trâu còn người Cưỡi trâu về thẳng đến gia san Trâu đã không rồi người cũng nhàn Mặt nhật ba sào vẫn say mộng Dây roi dẹp bỏ bên cạnh sàng |
![]() |
Người, trâu đều quên Roi gậy, người trâu thảy đều không Trời xanh thăm thẳm tin chẳng thông Lò hồng rừng rực nào dung tuyết Đến đó mới hay hiệp Tổ Tông |
![]() |
Trở về nguồn cội Phản bản hoàn nguyên đã phí công Đâu bằng thẳng đó tợ mù câm Trong am chẳng thấy ngoài vật khác Nước tự mênh mông hoa tự hồng |
![]() |
Thõng tay vào chợ Chân trần bày ngực thẳng vào thành Tô đất trét bùn nụ cười thanh Bí quyết thần tiên đâu cần đến Cây khô cũng khiến nở hoa lành |